© Hội Quốc Tế Thanh Hải Vô Thượng Sư



Lời Pháp Cam Lồ

Google


(xin gõ kiểu VNI,
VIQR hoặc Telex)



<June 2017>
SMTWTFS
28293031123
45678910
11121314151617
18192021222324
2526272829301
2345678

 Bạn là vị khách thứ 2799381
      Kể từ ngày 1/1/2005

 

Tiểu Sử Thanh Hải Vô Thượng Sư

"Minh Sư là người có chìa khóa giúp chúng ta trở thành Minh Sư, giúp chúng ta nhận thức được rằng chúng ta cũng là một Minh Sư, rằng chúng ta và Thượng Đế là một. Vai trò của vị Minh Sư chỉ có vậy thôi.”

"Pháp môn này không phải là một tôn giáo. Tôi không thay đổi tín ngưỡng của người khác để biến họ theo Thiên Chúa giáo, Phật giáo, hay bất cứ giáo phái nào. Tôi chỉ giản dị cống hiến một phương cách để quý vị có thể tự biết về mình, để tìm hiểu về nguồn cội, để nhớ lại sứ mệnh của quý vị trên Địa Cầu này, để khám phá những bí ẩn trong vũ trụ, để hiểu vì sao lại có quá nhiều khổ đau, và biết được những gì chờ đợi chúng ta bên kia cửa tử."

"Chúng ta xa cách Thượng Đế vì chúng ta quá bận rộn. Nếu có người đang nói chuyện với chúng ta và điện thoại cứ reng, rồi chúng ta lại bận nấu ăn hoặc nói chuyện với người khác, thì không ai có thể liên lạc được với chúng ta. Điều tương tự cũng xảy ra đối với Thượng Đế. Ngài gọi chúng ta mỗi ngày nhưng chúng ta lại không có thời giờ cho Ngài và luôn cúp máy.”

-Thanh Hải Vô Thượng Sư-

Thanh Hải Vô Thượng Sư sinh trưởng tại Âu Lạc, phụ thân Ngài là một đông y sĩ rất nổi tiếng. Ông thích nghiên cứu văn chương thế giới và đặc biệt rất yêu chuộng triết học. Do đó, Thanh Hải Vô Thượng Sư đã được xem qua các sách triết lý Đông Phương và Tây Phương, bao gồm những tác phẩm của Lão Tử, Khổng Tử và Trang Tử, trước khi vào tiểu học.

Từ thuở ấu thời, Thanh Hải Vô Thượng Sư đã thể hiện những đức tính khác hẳn những trẻ em khác. Trong khi các bạn đồng lứa làm bài tập hay nô đùa, thì Ngài lại đọc những bộ sách văn chương, triết lý cao siêu. Điều này khiến thân phụ Ngài lưu tâm và có lần hỏi Ngài có hiểu những sách này chăng. Ngài trả lời rằng: “Nếu con không hiểu, con đã không ham thích đọc.” Thân phụ Ngài vẫn quan tâm đến việc này, tuy nhiên vì Ngài bẩm sinh học hành rất xuất sắc, thường đứng đầu lớp, nên cuối cùng ông đã hỗ trợ cho những ý thích khác thường của Ngài.

Song thân Thanh Hải Vô Thượng Sư là tín đồ Thiên Chúa giáo nhưng luôn tỏ lòng tôn kính Phật giáo. Bà nội Ngài là một Phật tử thuần thành. Ngài thường quấn quít bên bà để học hỏi kinh điển cùng lễ Phật. Nhờ vậy, Thanh Hải Vô Thượng Sư có một tầm nhìn phóng khoáng đối với tất cả các tôn giáo. Buổi sáng Ngài thường đến nhà thờ cầu nguyện, buổi chiều đi chùa và tối đến thì đi nghe giảng kinh. Từ thuở nhỏ Ngài đã có nhiều thắc mắc về tâm linh: Chúng ta từ đâu đến? Đời sống sau khi chết như thế nào? Tại sao lại có những cảnh ngộ khác nhau giữa người và người?

Trong thời kỳ chiến tranh, vì nơi Ngài cư ngụ thiếu bác sĩ và y tá, nên Ngài thường đến bệnh viện để giúp đỡ sau giờ tan học. Ngài tắm rửa cho bệnh nhân, đổ những đồ ô uế, và hết lòng an ủi những người đau khổ. Bạn bè của Ngài ở khắp nơi thường gọi Ngài là Phật Sống hay Thánh Khôi Hài vì Ngài hay nói chuyện vui vẻ và tử tế với mọi người.

Từ thuở nhỏ Thanh Hải Vô Thượng Sư đã trường chay. Ngài rất thương yêu loài vật và thường mang những con vật bị thương về nhà chăm sóc cho đến khi chúng bình phục rồi mới thả đi. Trong suốt cuộc sống, Ngài thường tránh xa mỗi khi trông thấy cảnh con người sát hại súc vật để làm thực phẩm. Nếu thấy một con vật bị sát hại, Ngài thường rơi lệ và mong ước rằng Ngài có thể ngăn chặn được những đau khổ của trần gian.

Khi Ngài còn thơ ấu, một chiêm tinh gia cho biết Ngài là một người phi thường, rất thông minh, có tư cách và đạo đức siêu phàm. Vị chiêm tinh cho biết Ngài sẽ đạt khai ngộ, nhưng nếu lập gia đình, Ngài sẽ có một cuộc sống tràn đầy hạnh phúc và phu quân của Ngài là một người quý phái. Lời tiên đoán này đã được lặp lại nhiều lần vào những dịp khác nhau, tại nhiều quốc gia khác nhau.

Khi Thanh Hải Vô Thượng Sư lên đường tầm Đạo trên Hy Mã Lạp Sơn, mẫu thân Ngài đã đến một ngôi chùa nổi tiếng linh thiêng để cầu nguyện. Bà đã chọn nơi mà Quán Thế Âm Bồ Tát thường hay thị hiện cho những người thành tâm. Bà được cho biết Thanh Hải Vô Thượng Sư là một người thật hiếm có và cao quý, Ngài đến thế giới này để cứu độ chúng sinh đến bờ giải thoát.

Với khả năng làu thông ngoại ngữ, Thanh Hải Vô Thượng Sư đã giúp làm thông dịch viên cho Hội Hồng Thập Tự tại Đức Quốc. Ngài cũng tự nguyện cống hiến rất nhiều thời giờ, sức khỏe, và đời sống riêng tư để giúp đỡ người tỵ nạn Âu Lạc. Công việc tại Hội Hồng Thập Tự đã khiến Ngài cảm thông thêm về thảm cảnh của người tỵ nạn khắp nơi trên thế giới. Thanh Hải Vô Thượng Sư liên tục chứng kiến những khổ đau gây ra bởi chiến tranh, thiên tai, và bệnh tật. Điều này đã khiến Ngài càng thêm cương quyết tìm sự khai ngộ, vì Ngài nhận thức rằng chỉ khi khai ngộ mới có thể thực sự giúp giảm bớt những đau khổ của con người.

Khi cư ngụ tại Âu Châu, Ngài đã thành hôn với một bác sĩ người Đức. Phu quân của Ngài là một người đầy lòng nhân ái và cũng trường chay. Ông thường hay đi hành hương với Ngài và cũng tích cực hỗ trợ Ngài trong những công tác từ thiện.

Trong khoảng thời gian này, Ngài đã siêng năng tu thiền và tiếp tục con đường tầm thầy học Đạo. Ngài đã tìm đến rất nhiều bậc tu hành để học hỏi và nghiên cứu thêm kinh điển, nhưng cảm thấy không hiệu quả. Ngài đã không có những thể nghiệm tâm linh mà Ngài đọc được trong các kinh điển và cũng không đạt được trạng thái khai ngộ. Điều này khiến Ngài vô cùng ưu tư.

Với tâm khát khao cầu Đạo, Ngài cảm thấy cần phải rời cuộc sống gia đình để cống hiến trọn vẹn cho lý tưởng tu hành. Ngài đã thảo luận vấn đề này rất nhiều lần với phu quân cho đến khi ông hoàn toàn đồng ý về sự ra đi của Ngài. Đây là một quyết định cực kỳ khó khăn cho cả hai người, nhưng Ngài đã thành tâm quyết định hy sinh cuộc sống riêng tư để đi tìm Ánh Sáng Chân Lý, mong tự giúp chính mình và tha nhân được thoát vòng sinh tử luân hồi.

Trên hành trình tâm linh, Thanh Hải Vô Thượng Sư đã quyết tâm đi tìm một pháp môn hoàn mỹ để đạt giải thoát ngay trong hiện kiếp. Sau nhiều năm du hành khắp nơi, Ngài đã tìm được một vị Chân Sư tại Hy Mã Lạp Sơn. Ngài được vị Chân Sư này truyền Pháp Môn Quán Âm và lực lượng Tối Thượng như trong Kinh Lăng Nghiêm đã ghi. Sau một thời gian tu hành Pháp Môn Quán Âm, Ngài đã đạt được đại khai ngộ.

Thanh Hải Vô Thượng Sư tiếp tục tu hành ẩn dật trên Hy Mã Lạp Sơn. Sau đó, Ngài đến Formosa. Một đêm, trời mưa to gió lớn, Ngài đang tọa thiền trong một căn phòng phía sau một ngôi chùa nhỏ, thì có một nhóm người đến gõ cửa phòng Ngài. Khi Ngài hỏi tại sao họ đến đây, những người này trả lời rằng: “Thượng Đế từ bi đã đáp lời khẩn cầu của chúng con và cho chúng con biết về Ngài, nói rằng Ngài là một vị Đại Minh Sư, chúng con phải cầu xin Ngài chỉ cho phương pháp tu giải thoát.” Thanh Hải Vô Thượng Sư tìm cách bảo họ đi, nhưng họ không chịu rời. Cuối cùng, cảm động trước lòng thành tâm của họ, Ngài đã chấp nhận truyền Tâm Ấn sau khi họ tịnh hóa thân khẩu ý được vài tháng và phát nguyện trường chay.

Với bẩm tính e thẹn, Thanh Hải Vô Thượng Sư vốn không tìm học trò để dạy. Thật ra, Ngài đã lảng tránh khi mọi người tìm đến Ngài cầu xin học Đạo. Sau nhiều lần xảy ra tại Ấn Độ, Đức Quốc, Formosa và Hoa Kỳ, Thanh Hải Vô Thượng Sư nhận thức rằng Ngài không thể tránh khỏi sứ mệnh đã an bài. Trước lời thỉnh cầu tha thiết của đệ tử, Ngài bắt đầu chia sẻ với những ai muốn nghe lời giảng về Chân Lý và truyền Tâm Ấn cho những người thành tâm muốn theo học Pháp Môn Quán Âm.

Thanh Hải Vô Thượng Sư đã hoằng pháp khắp Á Châu, Âu Châu, Mỹ Châu, Phi Châu, Úc Châu, và Đại Dương Châu. Nhiều người thuộc các nền văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau đã tiến bộ rất nhiều trên phương diện tâm linh nhờ vào sự truyền pháp của Ngài.

Ngoài việc giúp vô số người qua việc giảng dạy giáo lý và truyền Tâm Ấn, với tình thương vô biên, Thanh Hải Vô Thượng Sư hết lòng giúp đỡ những người đang đau khổ hay lâm vào cảnh khó khăn. Ngài không phân biệt sự đau khổ gây ra bởi vô minh, vật chất hay hoàn cảnh.

Những nỗ lực đầy từ ái của Thanh Hải Vô Thượng Sư bao gồm sự trợ giúp cho những người vô gia cư, những vị cao niên kém may mắn, những trẻ mồ côi, những người nghèo khổ, những người mang bệnh phong cùi, gia đình trẻ em mang bệnh tâm thần, những cựu quân nhân, các nạn nhân thiên tai như hỏa hoạn, bão lụt, núi lửa, và động đất. Sự quan tâm trợ giúp của Thanh Hải Vô Thượng Sư trên khắp hoàn cầu cũng đến với các cộng đồng tâm linh và cơ quan phụng sự xã hội bất vụ lợi.

Mặc dù không mong cầu báo đáp, trong những năm vừa qua, Thanh Hải Vô Thượng Sư đã được ban tặng rất nhiều bằng tưởng lệ nhằm vinh danh những đóng góp nhân đạo của Ngài. Trong đó, đặc biệt có giải “Lãnh Đạo Tâm Linh Thế Giới” năm 1994 do sáu thống đốc miền Trung Tây Hoa Kỳ trao tặng (gồm các tiểu bang Illinois, Iowa, Kansas, Minnesota, Missouri và Wisconsin), hầu ghi tạc tình thương bao la và sự trợ giúp rộng lượng của Ngài. Ngoài ra, ngày 25 tháng 10 năm 1993 đã được thị trưởng Honolulu, Hạ Uy Di tuyên dương là Ngày Thanh Hải Vô Thượng Sư. Tương tự như vậy, ngày 22 tháng 2 năm 1994 cũng được sáu thống đốc Trung Tây Hoa Kỳ tuyên dương là Ngày Thanh Hải Vô Thượng Sư. Từ bao năm qua, ở khắp nơi trên thế giới, hai ngày lễ vinh danh nhà từ thiện và lãnh đạo tâm linh Thanh Hải Vô Thượng Sư đều được đón mừng một cách rất trọng thể.

 

Thanh Hải Vô Thượng Sư còn là một nghệ sĩ tài hoa. Những sáng tác của Ngài diễn đạt nét đẹp hoàn mỹ từ nội tâm và bao gồm các nghệ thuật hội họa, âm nhạc, thi văn, điêu khắc, trang trí trên quạt, đèn, thiết kế y phục và nữ trang. Nhiều tác phẩm nghệ thuật của Ngài đã được triển lãm và yêu chuộng bởi giới thưởng ngoạn và chuyên gia tại nhiều nơi trên quốc tế.

Thanh Hải Vô Thượng Sư có một lối nhìn rộng rãi về các tôn giáo. Ngài thường dùng những lời giảng dạy của Chúa Giê-su, Đức Phật, Lão Tử và các vị Minh Sư khác để chứng minh rằng Chân Lý chỉ là một và tất cả các Đấng Cứu Thế đều dạy cùng một Chân Lý. Ngài giải thích sự khác biệt bên ngoài giữa các tôn giáo là do sự khác biệt về tư tưởng, văn hóa, chủng tộc của con người trong những thời đại khác nhau mà thôi.

Thanh Hải Vô Thượng Sư nói rằng không phải Ngài sinh ra là đã khai ngộ. Ngài đã sống một cuộc sống bình thường của người thế tục và thông cảm những nỗi khó khăn, phiền toái, những yêu thích và hoài nghi của chúng ta từ kinh nghiệm của bản thân Ngài. Qua nỗ lực tu hành, Ngài đã đạt được đại khai ngộ, chứng được Niết Bàn, Thiên Quốc, và biết cách để đến đó. Sứ mệnh duy nhất của Ngài trong đời này là giúp chúng ta từ trong trạng thái chưa thức tỉnh, tìm được niềm Chân Phúc vĩnh hằng và hoàn toàn giác ngộ về Thượng Đế. Nếu chúng ta đã sẵn sàng, Ngài sẽ giúp đưa chúng ta về Nhà.

Trong thời gian Thanh Hải Vô Thượng Sư hoằng pháp, thông điệp cổ xưa về Pháp Môn Quán Âm đã được rao giảng trên nhiều quốc gia khắp hoàn cầu. Các buổi khai thị của Thanh Hải Vô Thượng Sư đã được ghi lại thành nhiều bộ sách và nhiều băng thâu âm, thâu hình bằng nhiều ngôn ngữ.

Thanh Hải Vô Thượng Sư truyền Tâm Ấn cho tất cả những ai thành tâm cầu Đạo. Muôn người từ các tín ngưỡng, bối cảnh xã hội và văn hóa khác nhau đã được thọ Tâm Ấn. Buổi lễ truyền Tâm Ấn, cũng như các buổi giảng pháp của Thanh Hải Vô Thượng Sư, đều luôn luôn miễn phí. Người xin thọ Tâm Ấn phải đồng ý sống một cuộc đời đạo đức căn bản, dựa trên ngũ giới, bao gồm cả việc trường chay. Thanh Hải Vô Thượng Sư không nhận tiền cúng dường của bất cứ một ai và tự trang trải cho sứ mệnh hoằng pháp bằng lợi nhuận đến từ các sáng tác mỹ thuật của Ngài.

Với một tâm hồn chan chứa tình thương và tấm lòng hy sinh vô bờ, Thanh Hải Vô Thượng Sư đã và đang giúp nhiều chúng sinh có cơ duyên tiếp xúc được một vị Minh Sư đại khai ngộ và hiếm quý. Thanh Hải Vô Thượng Sư thường nói rằng sự tiếp xúc này có thể chỉ xảy ra được một lần trong hàng triệu năm, cho nên, dĩ nhiên Ngài đón nhận tất cả những ai cảm thấy rằng thời gian của họ cuối cùng đã đến.

Hiện nay công việc hoằng pháp độ tha của Thanh Hải Vô Thượng Sư đang tiếp diễn và phát triển nhanh chóng đến khắp nơi trên thế giới.